flag header

Tin tứcTin tức

Tuyên ngôn Độc lập - Bản tuyên bố pháp lý về nền độc lập của Việt Nam

Ngày đăng 02/09/2019 Lượt xem: 398

Ngày 26-8-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Việt Bắc về tới Hà Nội. Tại căn nhà 48 phố Hàng Ngang, Người đã soạn bản Tuyên ngôn độc lập và sau đó đã đọc bản tuyên ngôn này trước hàng chục vạn đồng bào tại Quảng trường Ba Đình vào ngày 2-9-1945.

Trước đó, không ngừng dã tâm xác lập quyền đô hộ với một xứ sở phì nhiêu như Đông Dương, ngay từ tháng 7-1945, tại hội nghị Potsdam (Đức), các cường quốc đã quyết định quân Anh sẽ vào giải giáp quân Nhật từ vĩ tuyến 16. Trong khi đó, chính phủ do De Gaulle lãnh đạo tuyên bố sẽ tổ chức Liên bang Đông Dương thành 5 nước (Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ, Cao Miên và Ai Lao). Vì vậy, không thể chần chừ, Việt Nam cần phải tuyên bố độc lập.

Tính đến giữa năm 1945, tình hình quốc tế có những chuyển biến nhanh chóng. Chiến tranh thế giới thứ hai đang bước vào giai đoạn cuối với sự thất bại không thể cứu vãn của phe phát xít. Chớp thời cơ đó, nhân dân ta, dưới sự tổ chức và lãnh của Việt Minh đã vùng lên cướp lấy chính quyền. Bắt đầu từ ngày 19-8, chỉ trong vòng một tuần, cả nước ta đã giành được độc lập. Chế độ phong kiến hơn ngàn năm và chế độ thuộc địa hơn 80 năm bị lật đổ. Quyền làm chủ đã thuộc về nhân dân.

Vì vậy, một trong những tính pháp lý quan trọng là, bản Tuyên ngôn độc lập (ra đời đúng vào thời điểm – không thể muộn hơn) đã giúp ngăn chặn âm mưu tái chiếm Việt Nam của thực dân Pháp, chống lại ý đồ can thiệp vào Việt Nam của các đế quốc. Nó khẳng định quyền độc lập, tự do, tự chủ, tự quyết của dân tộc Việt Nam, đồng thời thể hiện quyết tâm sắt đá bảo vệ quyền độc lập ấy. Vì vậy, Tuyên ngôn độc lập là kết quả của niềm khao khát tự do, độc lập cháy bỏng của dân tộc ta đã tích tụ từ hàng ngàn năm qua, thể hiện qua tinh thần quật cường, bất khuất. Có thể nói, bản Tuyên ngôn là kết tinh trí tuệ của thời đại, là kết quả của bao nhiêu hi vọng, gắng sức và tin tưởng của hơn 20 triệu nhân dân Việt Nam bấy giờ.

Đọc kỹ Tuyên ngôn độc lập, ta thấy văn kiện này không chỉ đọc trước quốc dân, đồng bào mà còn trước thế giới. Đây là thái độ của chúng ta trước kẻ thù và trước các nước khác. Mở đầu, bản Tuyên ngôn bắt đầu bằng việc dẫn lại hai bản tuyên ngôn nổi tiếng của hai cường quốc là Pháp và Mỹ, từ đó suy rộng ra về quyền độc lập dân tộc (bên cạnh quyền con người và quyền công dân) như một lẽ phải mà không ai có thể chối cã được. Đó là chân lý. Đó cũng là một cách lật tẩy bản chất xấu xa của các nước đế quốc, của chế độ thực dân. Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Vậy mà suốt hơn 80 năm, thực dân Pháp bất chấp lẽ phải đó, dưới những mỹ từ “tự do, bình đẳng, bác ái”, “khai hóa”…, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy. Không chỉ vậy, khi phát xít Nhật tiến vào Đông Dương, chúng dâng hai tay nước ta (và cả Đông Dương) cho người Nhật, rồi chịu hạ mình làm tay sai cho chúng để cùng vơ vét nước ta, bóc lột dân ta thêm nặng nề. Chưa hết, khi phát xít Nhật bại trận, chúng nhanh chóng đòi khôi phục quyền đô hộ nước ta một lần nữa, trong khi được một số nước Đồng minh khác ủng hộ, giúp đỡ. Vì vậy, trong bản Tuyên ngôn, Hồ Chí Minh đã không khởi đầu bằng việc nêu lên truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm của dân tộc ta mà xuất phát từ các nguyên tắc do chính các nước tư bản đề ra và thừa nhận. Điều đó cho thấy, Hồ Chí Minh không chỉ tôn trọng thành quả văn hóa của nhân loại mà còn ngầm buộc các cường quốc phải thừa nhận quyền độc lập của dân tộc Việt Nam.

Lẽ dĩ nhiên, từ sự đấu tranh kiên cường của dân tộc tất yếu gặt hái được kết quả: Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập! (…) Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập”. Và, với tinh thần của chân lý về quyền độc lập, tự chủ của một dân tộc, với truyền thống yêu nước thương nòi, bất khuất trước mọi kẻ thù xâm lược, dân tộc Việt Nam – thông qua bản Tuyên ngôn – khẳng định: Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Đó là sự chạm khắc ý chí sắt đá giữ vững nền độc lập của dân tộc ta trên trang sử vàng của dân tộc. Tuyên ngôn kết thúc bằng việc mở ra một thời kỳ đấu tranh mới, mà lịch sử đã chứng rằng cũng gian nan và quyết liệt không kém.

Tuyên ngôn độc lập là bản tuyên bố pháp lý không chỉ với quốc dân, với thực dân Pháp, phát xít Nhật mà còn với với cộng đồng thế giới về một nền độc lập, tự chủ của Việt Nam, một đất nước bấy giờ chưa có tên trên bản đồ thế giới. Điều đó thể hiện tính lịch sử và tầm thời đại của văn kiện này. Đó là sự nối tiếp những bản “tuyên ngôn” Thần của Lý Thường Kiệt, Cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi, những áng thiên cổ hùng văn không có giá trị về mặt lịch sử mà còn có ý nghĩa thôi thúc, động viên các thế hệ người Việt Nam sẵn sàng xả thân để bảo vệ nền độc lập của dân tộc.

Trúc Giang